| Article Index |
|---|
| Mừng Khánh Đản P.L. 2550 |
| Page 2 |
| Page 3 |
| Page 4 |
| Page 5 |
| Page 6 |
| Page 7 |
| Page 8 |
| Page 9 |
| Page 10 |
| Page 11 |
| Page 12 |
| All Pages |
THÔNG ĐIỆP PHẬT ĐẢN, PL. 2550
của Đức Đệ Tứ Tăng Thống
Kính gửi : Chư Tôn Trưởng lão Chư Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức Tăng Ni
Cùng toàn thể Phật tử trong và ngoài nước
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thưa qúy liệt vị !
Hôm nay là ngày trăng tròn tháng Vesākha Ấn Độ, hoa vô ưu lại nở, ngày Đại lễ kỷ niệm Đản sinh lần thứ 2550 của Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, từ Tu Viện Nguyên Thiều, nơi tôi đang bị khó khăn đi lại và làm việc, cách ly với các chúng đệ tử xuất gia và tại gia ; tôi chân thành kính gửi đến chư Tôn Trưởng lão, chư Hoà Thượng, Thượng toạ, Đại Đức Tăng Ni cùng toàn thể Phật tử trong và ngoài nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất, với niềm hân hoan mừng đón Phật Đản, PL. 2550. Mặc dù việc thi hành Phật sự gặp khó khăn, tuy nhiên lễ Phật đản năm nay vẫn sẽ được cử hành trong nước và nhiều quốc gia trên thế giới do GHPGVNTN hải ngoại tổ chức.
Thưa quý liệt vị !
Hơn 2550 năm qua, Đạo Phật xuất hiện ở cõi đời như một Thông điệp bao dung hỷ xả, trao truyền cho nhân thế, toả sáng bằng các phẩm tính Từ bi và Trí tuệ của Đấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ngày nay thông điệp ấy đã được nhân loại đón nhận như ngọn hải đăng soi đường hướng về cuộc sống nội tâm an tịnh, hoà bình trong thế giới đầy lo âu và sợ hãi vì bạo lực và khủng bố này.
Đạo Phật đã được truyền vào đất nước Việt Nam cũng đã hơn 2000 năm lịch sử. Đức tính bao dung hiền hậu và những giá trị phổ quát của phẩm giá con người được hàm chứa trong đó, đã làm nên nguồn lực sinh tồn, tác thành ý thức dân tộc. Mỗi dân tộc trong điều kiện địa lý và lịch sử cá biệt, trải qua vô vàn khó khăn, gian khổ của nhiều thế hệ, đã tập thành các giá trị truyền thống tinh thần để tự khẳng định sự tồn tại của mình bình đẳng với mọi dân tộc khác. Đó là bài học viết bằng tâm nguyện hy sinh vô uý của chư lịch đại Tổ sư, của nhiều thế hệ Phật tử uy dũng. Ngày nay các chúng đệ tử Phật, xuất gia cũng như tại gia, cần phải tư duy chiêm nghiệm, phải tự trang bị Chánh kiến cho mình trong đời sống đạo hạnh kham nhẫn, phải tăng trưởng tâm Bồ đề và sức mạnh dũng cảm vô uý để hoàn thành lý tưởng phụng đạo với tâm nguyện “Tương thử thâm tâm phụng trần sát”.
Hơn 2550 năm, giáo pháp của Đức Thế Tôn được truyền bá khắp Đông Tây, Nam Bắc chỉ với một phương tiện duy nhất là thuyết giáo, mang đậm hương vị giải thoát và giác ngộ. Hơn 2000 năm lịch sử truyền thừa trên đất nước Việt Nam, phương tiện và hương vị ấy hoà quyện vào nhau bất khả phân, làm nên tinh hoa dân tộc và đạo Pháp. Đó là ý nghĩa tồn tại, mà cũng là sứ mệnh cao cả của cộng đồng Phật tử Việt Nam trong cũng như ngoài nước.
Thưa qúy liệt vị !
Năm nay mùa Phật Đản lại về trên quê hương đất nước. Cũng như hàng nghìn năm trước, bằng tín tâm thanh tịnh, bằng công hạnh tu trì, bằng ý chí sắt son phụng đạo, Tăng Ni, tín đồ Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước, dâng lên cúng dường ngày Đản sanh của đức Từ Phụ, đấng Đạo sư của chư thiên và nhân loại, đốt nén tâm hương Giới-Định-Tuệ, cầu nguyện an lạc cho mình, cho mọi người ở đời này và đời sau.
Kỷ niệm Phật Đản, giữa lúc GHPGVNTN vẫn đang trong cơn pháp nạn, liên tục bị bức hại. Bản thân tôi và Hoà thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, cùng các vị trong Hội Đồng Lưỡng Viện, bị Nhà nước Việt Nam theo dõi, hăm doạ, cô lập, ngăn cấm không cho gặp nhau ; các thành viên Ban Đại Diện các tỉnh thành thì bị khủng bố, đàn áp. Vì thế mà Giáo hội chúng ta không thể hoạt động được. Cho nên, cúng dường Phật Đản năm nay, Tăng Ni, Tín đồ còn phải ý thức trách nhiệm và bổn phận của mình trước tiền đồ đạo pháp và dân tộc, loại bỏ dị kiến, đoàn kết bên nhau, kiên trì "bản thệ độ sanh" và sẵn sàng chấp nhận hy sinh ; khó khăn không chùn bước, danh lợi chẳng màng, không khuất phục bạo lực. Chúng ta nhất tâm cầu nguyện chư Phật, chư Tổ, chư vị Hộ pháp Thiện thần gia hộ cho chúng ta đầy đủ nghị lực ; cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo Việt Nam đầy đủ sáng suốt, can đảm phản tỉnh để hoàn thành nhiệm vụ trước lịch sử dân tộc và đạo pháp, nghiêm chỉnh trả lại pháp lý sinh hoạt cho GHPGVNTN, thực hiện chính sách tự do tôn giáo thực sự đối với các tôn giáo khác ; nhất là thiết lập một chế độ tự do dân chủ cho xã hội như mọi người hằng mong ước.
Kính thưa qúy liệt vị !
Con đường phía trước còn dài và nhiều khó khăn, nhưng chúng ta phải chu toàn sự nghiệp vận động phục hoạt GHPGVNTN cho đến khi thành tựu. Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong cũng như ngoài nước hãy tinh cần hành đạo, cảnh sách trước các âm mưu chia rẽ, trước những lời hứa hẹn hão huyền, không vì miếng mồi danh lợi phù du mà đánh mất bản chất và phẩm giá của người con Phật.
Thời gian trôi qua không trở lại ! Nhiều nền văn minh trên thế giới nở rộ, rồi sau đó sụp đổ, mất hút trong bóng tối của định luật vô thường hoại diệt. Nhiều đấng Giác ngộ xuất thế, rồi nhập Niết bàn. Chánh pháp như mặt trời, lúc hiện lúc ẩn. Nhưng Phật tánh trong mọi chúng sanh thì bất sinh bất diệt.
Thưa qúy liệt vị!
Trong ý nghĩa đó, tôi kính gửi đến chư tôn Trưởng lão, chư Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức Tăng Ni cùng tất cả Phật tử trong và ngoài nước lời chúc mừng khánh hỷ, nhân mùa Phật Đản, PL. 2550, đồng thời góp phần tâm niệm tưởng nhớ ân đức tiền nhân, các bậc tôn trưởng trải qua nhiều thế hệ đã dày công tài bồi đạo pháp. Đặc biệt trong 30 năm qua, từ 1975 đến 2005, Giáo hội ghi nhận được danh sách của 22 vị Tăng, Ni, Cư sĩ Phật tử vị pháp vong thân để cho thế hệ ngày nay và cả mai sau, được thừa hưởng sự tự do tín ngưỡng và các giá trị tâm linh cao quý.
Nguyện cùng bảy chúng đệ tử hồi hướng công đức cúng dường Phật đản năm nay để cầu nguyện hoà bình an lạc cho dân tộc và nhân loại cùng hết thảy pháp giới chúng sinh.
Trân trọng kính chào quí liệt vị quan khách và toàn thể Tăng Ni Phật tử trong nước và trên khắp thế giới.
Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Mùa Phật Đản ,PL.2550
Tu viện Nguyên Thiều, Bình- Định ngày 05 tháng 4 năm 2006 Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
(ấn ký)
Tỳ kheo
Thích Huyền Quang
Đạo Từ Của Hoà Thượng Thích Hộ Giác - Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Văn Phòng II Viện Hoá Đạo
Thật là niềm hoan hỷ lớn lao được quí ngài, quí vị cùng hiện diện để long trọng cử hành đại lễ Khánh Đản Phật lịch 2550. Hình ảnh đại từ đại bi của Đức Phật và thông điệp giác ngộ hoà bình của Ngài vẫn chứa đầy giá trị cao cả trong cuộc sống hôm nay như tự bao giờ. Đất nước Việt Nam cũng như cục diện của thế giới đưa ra bao nhiêu nan đề của chiến tranh, khủng hoảng xã hội, suy thoái tinh thần khiến cho chúng ta không thể không nghĩ đến hình ảnh của một bậc vĩ nhân đã rời bỏ cung vàng điện ngọc đi tìm một lối thoát cho thực trạng mà Đức Phật đã mô tả trong kinh Thánh Cầu: Thế giới bị đau khổ chi phối lại đi tìm cái bị chi phối bởi khổ đau.
Trong kinh Mahàdhamma-samàdàna sutta đề cập đến ba sự lợi lạc mà Đức Phật hướng dẫn cho quần sinh. Trước nhất là lợi lạc thiết thực hiện tại (ditthadhammika) gồm những lời dạy trực tiếp cải thiện đời sống như tương quan giữa cha mẹ con cái, những pháp mà một minh quân nên có, sự tốt đẹp trong sinh kế ..v..v.. Thứ hai là lợi lạc tương lai (samparāyika) là những thiện hạnh y cứ trên nhân quả nghiệp báo. Những hạt giống lành khéo tu tạo hôm nay sẽ đem lại phúc đức cho mai hậu. Thứ ba là lợi lạc tối thượng (paramattha) là cứu cách giác ngộ giải thoát tối hậu phá tan mọi xiềng xích của vô minh khát ái. Lòng đại từ đại bi của Đức Từ Phụ thể hiện qua sự kiên nhẫn vô bờ để khai thị cho thế gian lãnh hội thế nào là sự xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho đời nầy, đời sau và hạnh phúc vượt khỏi trầm luân sanh tử. Từ những lời dạy nầy người Phật tử ý thức rõ ràng nếu cuộc sống hiện tại với những khó khăn, khủng hoảng thì khó có thể tạo phước hạnh cho tương lai và con đường giác ngộ giải thoát. Những tương quan giữa cá nhân và xã hội, hiện tại và tương lai, nhập thế và xuất thế vốn không thể phủ nhận trong giáo lý y tương sinh.
Nói đến những khổ nạn mà đất nước Việt Nam đang trải qua hôm nay không thể không nói đến sự suy thoái những giá trị tâm linh. Vai trò của tôn giáo cực kỳ quan trọng trong việc hồi sinh sức mạnh của dân tộc. Đạo giáo phải đứng ngoài sự chi phối của quyền lực thế tục. Quê hương có thanh bình tự do thì người dân mới có thuận duyên tu tập hành đạo. Chính vì thế Người Phật tử không thể chỉ nghĩ đến sự giải thoát mà làm ngơ với những vấn đề trước mắt của xã hội. Sự phục hoạt pháp lý quyền sinh hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không những là một đáp ứng hợp tình hợp lý đối với Phật giáo đồ Việt Nam mà còn khẳng định một bước quan trọng sự đổi mới cấp thiết trước khổ nạn của dân tộc hiện nay.
Nhân ngày Khánh Đản xin lắng đọng tâm tư để cảm nhận giá trị thâm áo về sự ra đời của Đức Phật. Cũng xin cầu nguyện Ân Lành gia hộ cho cộng đồng nhân loại sáng suốt tránh được cảnh tương tàn, cho đất nước Việt Nam sớm có tự do, dân chủ. Và cũng nguyện cầu cho chư tôn giáo phẩm trong Hội Đồng Lưỡng Việt tại quê nhà không còn bị cách ly, quản thúc, sách nhiễu để toàn tâm kiến tạo một Đạo Phật Việt Nam vững mạnh cho thế hệ hôm nay và mai hậu.
Ước mong hình ảnh và lời dạy của Đức Phật luôn ngự trị nơi mỗi chúng ta trước mọi hướng đi trong cuộc đời. Xin cảm ơn và kính chúc tất cả vô lượng cát tường.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
VĂN KHÁNH ĐẢN
Ngưỡng bạch Đức Thế Tôn
Hôm nay ngày Khánh Đản chúng con xin đãnh lễ Ngài bậc đại phúc. Tám mươi năm trụ thế của Ngài là thể hiện của vô lượng phước báu ba la mật hạnh. Giữa muôn hoa tươi đẹp của mùa xuân trong vườn Lumbini Ngài đã chào đời. Cung vàng điện ngọc, cuộc sống phù hoa đã không làm mờ bi tâm trí giác, Ngài lên đường xuất gia tầm đạo giữa lúc thanh xuân. Sáu năm trường trắc nghiệm khổ tu, Ngài cảm thắng quần ma chứng thành vô thượng chánh giác dưới cội bồ đề. Tám mươi tuổi thọ đạo tròn duyên mãn Ngài an nhiên thị tịch dưới tàng song long thọ.
Chúng con đãnh lễ Ngài bậc đại bi vô thượng. Ra đời vì cứu khổ cho muôn loài chúng sinh. Có lần đơn thân độc hành để chuyển pháp luân. Có lúc mang y phấn tảo để tạo gương lành cho hậu thế. Có khi cực kỳ kiên nhẫn để cảm hoá kẻ cuồng ngông. Vì lợi ích cho nhân thiên ngày ngày tuyên lưu diệu pháp. Không vì kẻ trong giai cấp hạ tiện mà không cho vào Tăng chúng. Cũng chẳng phải vì căn tính mê lầm mà không dạy đạo thâm sâu. Tự thân chẳng cần gì mà sống cho tất cả. Ba cõi vốn là không nhưng chúng sanh đau khổ thì không làm ngơ ngoãnh mặt.
Chúng con đãnh lễ Ngài bậc đại giác. Giữa những cực đoan kiến chấp Ngài truyền dạy trung đạo nhiệm mầu. Thế gian lấy sở đắc làm trọng Ngài khuyến dạy tịnh hoá, thắp sáng nội tâm. Cuộc đời chìm sâu trong oan khiên hiềm hận Ngài dạy giá trị của bi mẫn, từ hoà. Thế trí nặng kiến thủ Ngài tuyên thuyết lý duyên sinh duyên khởi. Sự chuyển hoá lớn trong đời là phân biệt giả chân, cánh cửa vô sanh giải thoát chính là tuệ minh giác ngộ.
Chúng con đãnh lễ Ngài bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Namo Buddhàya 

Tình thương của Phật
Bài viết của tinh tấn
Hàng năm, đến mùa Lễ Phật Đản rằm tháng Tư âm lịch, Chư Tăng Ni tề tựu tại các chùa cũng như thiện tín đến dự lễ để tưởng nhớ kỷ niệm Bậc Đạo Sư Vĩ Đại của chúng ta cách đây 2,550 năm trước.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Đức Thế Tôn, là Thầy của trời và người.
Mặc dù trải qua bao nhiêu ngàn năm, tình thương của Đức Phật luôn bao la, rộng mở cho muôn loài chúng sanh. Ngài đã tự mình Giác Ngộ và tìm ra con đường cứu độ chúng sanh thoát khỏi khổ đau nếu ai thực hành Giáo Pháp của Ngài.
Tình thương chúng sanh không phải chỉ ở kiếp cuối cùng của Đức Phật mới biểu hiện tình thương vô lượng, mà Ngài đã thể hiện tình thương chúng sanh khi còn là Bồ Tát qua bốn A Tăng Kỳ và một trăm ngàn đại kiếp. Những mẫu chuyện tiền kiếp của Ngài còn ghi lại trong Túc Sanh Truyện, Bồ Tát đã phát nguyện mười hạnh Ba La Mật như bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, kiên nhẫn, chân thật, cương quyết, tâm từ và tâm xả, chỉ vì một ước nguyện trở thành Bậc Chánh Đảng Chánh Giác, cứu khổ chúng sanh. Có những mẫu chuyện thương tâm trong Kinh Bổn Sanh khi Bồ Tát là một hoàng tử, Ngài đã lao mình xuống vực thẳm để hiến thân cứu bầy cọp đói. Trong mẫu chuyện khác, vì lời nguyện bố thí Ba La Mật, Ngài đành bố thí cả vợ lẫn con. Ngay cả những kiếp làm súc sanh, Bồ Tát trong kiếp voi chúa, Ngài đã chịu đưng đau đớn để cho kẻ thợ săn cưa cặp ngà quý báu, trong khi với sức voi, Ngài có thể quật ngã tên thợ săn yếu đuối kia nhưng Ngài đã dừng lại để bảo vệ Ba La Mật của Ngài mà không làm đau khổ chúng sanh khác. Trong một kiếp làm khỉ cứu người, thay vì được trả ơn, kẻ bội ơn dùng đá đập vào đầu khỉ, nhưng Bồ Tát vẫn cố gắng đưa ngườj ra khỏi khu rừng với đầu máu me đầm đìa của mình, để rồi kiệt sức. Trải qua bao nhiêu kiếp trầm luân, Bồ Tát chỉ một chí nguyện duy nhất là thương chúng sanh, mong mỏi một kiếp nào đó, hạnh Ba La Mật được tròn đầy, Ngài có thể tiếp độ chúng sanh ra khỏi luân hồi.
Trải qua vô lượng kiếp tu hạnh Ba La Mật, nay đã được chín mùi, kiếp cuối cùng, Bồ Tát sanh làm Hoàng tử của dòng họ Thích Ca (Sàkya), là con Vua Tinh Phạn (Suddhodana) và Hoàng Hậu Màhà Mayà ở thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) thuộc Ấn Độ. Hoàng tử Siddhattha sống trong nhung lụa và cưới nàng Da Du Đà la (Yasodharà) với dung sắc tuyệt trần. Mặc dù được Vua Cha thương yêu và được sống trong giàu sang nhung gấm, Thái tử Siddhattha luôn luôn băn khoăn và suy tư về sầu bi, khổ, ưu, não của chúng sanh, tất cả phải chịu sanh, lão, bệnh, tử. Rồi một đêm vui nhộn nhất của triều đình, Hoàng nam Ràhula ra đời, mọi người ăn mừng cho hoàng tộc. Thay vì Ngài sung sướng như những người được làm cha, Thái tử Siddhattha lai.buôn tiếng than: “Ôi, đây là dây trói buộc”, phải chăng Ngài đã thương chúng sanh đang đau khổ hơn chính cá nhân Ngài đang được hạnh phúc!. Cũng trong đêm đó, Ngài đã âm thầm từ giả vợ con ra đi, rời khỏi hoàng cung, rời khỏi nơi nhung gấm xa hoa của hoàng tộc, chỉ vì thương chúng sanh và mong tìm con đường thoát khổ cho chúng sanh. Thật tán thán thay, Ngài từ bỏ ngôi vị đế vương, từ bỏ vợ đẹp con xinh, từ bỏ xiêm y của một vị Hoàng tử để khoát lên mình chiếc y cà sa vàng mỏng manh, đôi hài Ngài nào của Ngài bây giờ là chân trần, dẫm lên những sõi đá ghập ghềnh, đạp trên con đường nóng bức…sự xả ly và tình thương của Ngài chưa từng có trong lịch sử nhân loại!
Sau bao nhiêu năm tầm đạo gian khổ, Bồ Tát Gotama đã tự Giác Ngộ, thành tựu quả tối thượng Chánh Đảng Chánh Giác. Thương chúng sanh, Ngài không Niết Bàn lúc đó và nhận lời thỉnh cầu của Phạm Thiên để ở lại trần gian, truyền bá Chánh Pháp. Đức Thế Tôn đã tìm ra con đường thoát khổ, thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử, và sầu bi khổ ưu não được đoạn tận. Đức Phật đã tìm ra vi diệu của chân lý về sự khổ (khổ đế), sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, và có ngũ uẩn là khổ. Rồi Ngài tìm ra nguyên nhân gây ra đau khổ (Tập đế) chính là ái dục làm chúng sanh phải tái sanh mãi trong vòng luân hồi. Rồi Ngài đã tìm ra sự diệt khổ (diệt đế) bằng sự thoát ly, chấm dứt ái dục, không còn đeo níu vào kiếp sinh tồn, và cuối cùng Ngài dẫn đến con đường tận diệt đau khổ (đạo đế) chính là Bát Chánh Đạo. Con đường Bát Chánh Đạo gồm có: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Đinh. Những ai thật hành Bát Chánh Đạo sẽ chấm dứt đau khổ, chấm dứt sanh tử luân hồi, chính là Niết Bàn.
Thật vậy, Đức Phật thương chúng sanh và chỉ con đường đưa đến giác ngộ nếu thật hành đúng theo giáo pháp của Ngài. Chúng sanh vô minh đã phải luân chuyển mãi trong vòng luân hồi, kiếp này sang kiếp khác, không bao giờ chấm dứt. Ngài ví nước mắt chúng sanh trong luân hồi nhiều như biển cả. Giờ đây ánh sáng từ bi của Ngài đã soi sáng cho những ai muốn chấm dứt đau khổ. Trong tất cả bài pháp của Đức Thế Tôn đều thấm nhuần lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đức Thế Tôn thương chúng sanh đồng đều nhau, không thiên vị cao sang hay thấp hèn, người cao thượng hay kẻ độc ác. Chính Đề Bà Đạt Đa đã tuyên bố rằng dưới mắt của Đức Thế Tôn, tình thương Ngài dành cho Ràhula như thế nào thì tình thương Ngài đối với Đề Bà Đạt Đa đồng như thế ấy. Trong nhiều chuyện tích thời hiện tiền của Đức Phật còn để lại đã diễn tả tình thương bao la của Ngài. Kẻ đau khổ bị mất cha mẹ, chồng con đến nổi điên lọan như nàng Patàcàrà đã được Đức Phật xoa dịu và đưa nàng trở về ánh sáng của trí tuệ. Ngài đã thức tỉnh nàng Kìsà Gotamì vì quá đau khổ đã bị mất đứa con thương yêu, nhận thức sự vô thường sau khi thất vọng vì không tìm được hạt cải trong nhà người không bao giờ có tang chế. Trong giới Tăng đoàn của Đức Phật đã không phân biệt vua chúa hay hạ cấp thủ đà la, sang hay hèn, tất cả đồng hóa một màu y vàng Từ Bi của Đức Thế Tôn.
Tam Bảo vẫn duy trì cho đến ngày nay, chúng ta tổ chức mùa Phật Đản để tưởng nhớ tình thương của Đức Phật Thích Ca vô bờ bến, không giới hạn. Tình thương của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni qua nhiều thế kỷ vẫn lưu mãi trong lòng người Phật tử cũng như tất cả chúng sanh trong Tam giới.
Những mùa trăng Vesak - Tôn Vinh Ðức Phật
Trăng khuya thấp thoáng ngoài song cửa nhắc nhở tôi lại sắp đến đêm rằm. Bóng trăng phố thị viễn xứ không có những hình ảnh thân thương ngọn cau tàu chuối, đậm đà tình tự quê hương,chấm phá phụ họa cho đêm rằm thêm thi vị, bao năm qua quê người bận bịu áo cơm, hầu như đã không còn là một hứng thú cho thế giới của riêng tôi nữa.
Ở đây mùa đông băng giá kéo dài nên trăng thường trốn mất trong bầu trời tuyết sương ảm đạm. Thỉnh thoảng, tôi cũng bắt gặp một thoáng ánh trăng chiếu qua phòng văn một trượng vào những đêm miệt mài làm việc đến tận khuya, chỉ một mảnh trăng tí xíu, chưa kịp buông lơi bận rộn ra để nâng niu mảnh trăng hiếm hoi kia thì trăng đã đi qua.
Ðêm nay, ánh trăng lại tình cờ chiếu qua phòng, buông bàn phím tôi nghiêng mình ngó ra khung cửa. Trăng tròn vành vạnh, nhỏ xíu trên nền trời thăm thẳm. Một thoáng bâng khuâng , và rồi tôi tự hỏi, đêm trăng nào được gọi là đẹp nhất nhân gian, tôi lại nghĩ đến trăng tháng tư, trăng …của tôi.
Mùa trăng Vesak ! Mùa trăng lễ hội Tam Hợp. Không quan trọng sao được chứ, ngày đản sanh, ngày thành đạo, ngày nhập diệt của Ðức Phật, ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời Ðức Phật đều xảy ra vào mùa trăng tháng Vesak đó mà.
Mùa Phật Ðản năm nay lại sắp sửa trở về. 2550 năm đã qua đi. Con số 2550 năm đối với một người bình thường thì nó …rất đỗi bình thường, nhưng đối với những người con Phật như chúng ta, nó mang một ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Cả thế giới, đâu đâu cũng rộn ràng chuẩn bị tổ chức lễ hội Khánh Ðản này hàng tháng trời trước đó, nhất là xứ sở quê hương của Ðức Phật, Ấn Ðộ, Nepal.
Người ta đã chuẩn bị chào mừng mùa lễ hội này từ hồi năm ngoái, và để đón mừng, người ta không chỉ tổ chức trong một ngày, một tuần hay một tháng mà đại lễ kỷ niệm sẽ là một chương trình kéo dài liên tục hàng tháng trong suốt năm tại các trụ sở chính của Hội MahaBodhi Ấn Ðộ ở Tu Viện Dharmarajika Vihara, Calcutta, Buddha Gaya, New Delhi và tại các trung tâm khác ở Lucknow, Bhubaneswar, Shravasthi, Lumbini (Nepal Terai), Saranath và Kushinagar (Kusinara) v.v.. với những chương trình chi tiết phong phú đặc sắc cấp quốc gia do các nhân vật số 1, số 2 trong nước ngồi ghế chủ tọa, ví dụ như tổ chức các hội nghị chuyên đề, xuất bản kinh điển bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, xây dựng trung tâm đào tạo tăng tài, tổ chức các khóa tu học v.v
Nhân loại ngày nay, những ai nhận chân được giá trị của Phật giáo đều tri ân Ðức Phật, tôn vinh Ðức Phật. Các nhà trí thức trong thời cận và hiện đại đã không tiếc lời xưng tán Ðức Phật và giáo pháp của Ngài. Ngày nay, phương tiện truyền thông, truyền bá tối tân, phổ cập, các loại hình văn hóa tôn vinh giáo pháp và Ðức Phật được thể hiện trên nhiều lãnh vực qua các phương tiện vật chất đa dạng, dĩ nhiên bao gồm luôn cả những loại hình đã được người xưa sử dụng.
Thời chưa có giấy bút, để tưởng nhớ hình bóng của Ngài, để tôn vinh Ngài, trong hai lãnh vực văn học và nghệ thuật,.hầu như chỉ có lãnh vực nghệ thuật là để lại nhiều tác phẩm nhất.
Trong lãnh vực văn học, số lượng kinh điển khổng lồ của cả ba hệ phái hầu hết là lời dạy của Ðức Phật được các bậc thánh đệ tử ghi chép lại và khai triển thêm, cho nên, tìm một tác phẩm chỉ nói lên khía cạnh tôn vinh Ngài thì dường như không có nhiều, vài tác phẩm đại khái như Phật Sở Hành Tán ( Buddha carata), tán thán Ðức Phật của Ngài Mã Minh, (Asùvaghosa) sống vào thế kỷ thứ hai, sau ngài Mã Minh thì có Ngài Màtrìcetìa soạn Tứ Bách tán (Catuhï-sùataka-stotra) và Nhất Bách Ngũ Thập Tán Phật Tụng (Sùata-panõcasùatikà-stotra) v.v... Riêng trong lãnh vực nghệ thuật như hội họa , điêu khắc, kiến trúc v.v… người ta đã khắc, chạm hình ảnh cũng như lời giáo huấn trên vách đá trong hang động, trên thạch trụ, trên bi ký v.v…
Ngoại trừ số kinh điển được khắc lên đá, lên bia, phần còn lại qua sự sáng tạo của nhân loại, hình ảnh Ðức Phật và những biểu tượng được thể hiện bằng nhiều khuynh hướng điêu khắc, chạm trổ khác nhau, nổi bật nhất có lẽ phải nói đến khuynh hướng nghệ thuật Gandhara, phiên âm Việt Kiền Ðà La. Thời đại hoàng kim của nghệ thuật điêu khắc Phật Giáo Ấn Ðộ với 85,000 ngôi tháp từ thế kỷ thứ 4 sau Tây lịch như Sarnath và Sanchi, Gandhara và Mathura do Vua A Dục chỉ đạo là một chứng minh hùng hồn nhất.
Trong khi Sanchi và Sarnath nổi tiếng với đền tháp thì Gandhara và Mathura lại thiên trọng về hình tượng. Nghệ thuật điêu khắc Gandhara đã chiếm lĩnh một vị trí nổi bật trong các viện bảo tàng của Anh, Pháp, Ðức, Hoa Kỳ, Nhật, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Trung Quốc, A Phú Hãn và trong nhiều bộ sưu tập tư nhân. Cho đến gần đây người ta vẫn tiếp tục khai quật và khám phá thêm những khu di sản thánh tích Phật Giáo rải rác trên đất nước Ấn Ðộ và các quốc gia lân cận như Pakistan, A Phú hãn. v.v.. Các cuộc triển lãm nghệ thuật Phật Giáo vẫn được tiếp tục tổ chức đó đây trên những thành phố có tầm quan trọng trong mọi lãnh vực, nhất là New York. Nhiều khu vực thánh tích hiện nay đã được cơ quan UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới.
Quay sang Trung Hoa, ta được biết Trung Hoa có ba thạch động với nhiều di tích Phật Giáo (nhất là điêu khắc tượng Phật vào đá), đó là động Long Môn (tỉnh Hà Nam), động Ðôn Hoàng (tỉnh Cam Túc) và động Vân Cương (tỉnh Sơn Tây). Trong ba động ấy, Ðộng Vân Cương là có di tích lớn nhất, đẹp nhất và lâu đời nhất, có từ thời Bắc Ngụy (439 sau Tây Lịch).
Vân Cương Thạch Ðộng, nằm ở duới chân núi Vũ Châu, cách thị trấn Ðại Ðồng 16 km về phía tây. Vân Cương Thạch Ðộng có tất cả hơn 1,100 cái hang động và hang nhỏ (hốc) với 5,100 bức tượng. Nhưng chỉ có 53 cái động chính là đáng chú ý, có 9 bức tượng lớn cao trên trên 10m, cao dưới 10m có hàng 48,000 bức tượng Phật & Bồ Tát, và có hơn 3,000 tượng chư thiên hộ pháp. Những động chính chia làm 3 phần: Phần bên phải lối vào gồm động số 1 đến 4, phần chánh điện gồm động số 4 đến 13, phần bên trái từ động 14 đến 53.
Quần thể di tích Ðôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, nơi mà thương nhân đi lại trên con đường Tơ Lụa đã dừng chân khiến sinh hoạt xã hội cũng như sinh hoạt tôn giáo nơi đây bùng nở rộ gồm 492 hang động, tổng cộng 45,000 mét vuông bích họa, 2415 bức tượng, Ðôn Hoàng được các nhà khảo cổ xem đó là nơi chứa những mảng nghệ thuật Phật giáo lớn nhất và tuyệt vời nhất trên thế giới. Chỉ riêng Thạch động Mạc Cao của Đôn Hoàng là đã có con số hàng ngàn tượng Đức Phật được khắc vào vách đá trải dài khoản 1,600 meters dọc theo miền đông của ngọn đồi Mingsha nằm cách 25 km về phía đông nam của Đôn Hoàng. Người ta gọi động này là Thiên Phật Ðộng. Đường Triều được ghi nhận rằng hang động thứ nhất trong thạch động Mạc cao đã được thành hình vào năm 366 trước Tây lịch. Vào năm 1987 cơ quan UNESCO đã ghi nhận Ðôn Hoàng là một di sản văn hóa của thế giới.
Các ác phẩm nghệ thuật tôn vinh Ðức Phật không chỉ gồm một số các thạch động và những hình tượng, biểu tượng điêu khắc mà ta trông thấy đó đây. Còn rất nhiều những tác phẩm trong các lãnh vực khác như kiến trúc, hội họa, âm nhạc v.v…cũng không kém phần quan trọng, nhưng giới hạn của một bài viết ngắn này đã không cho phép làm công việc tra cứu nhiều hơn. Tuy nhiên, trước khi trở lại với câu hỏi đêm trăng nào đẹp nhất nhân gian, xin đi lan man một chút vào lãnh vực thi ca Việt Nam để xem một vài tác giả tri ân và tôn vinh Ðức Phật ra sao.
Chúng ta hãy nghe Quách Tấn nhẹ nhàng, thong thả và thanh thóat với hương hoa Ưu Ðàm mấy ngàn năm mới nở qua bài Thoáng Hiện.
Nghìn trước không còn nữa,
Nghìn sau rồi cũng không.
Phảng phất bờ trăng rạng,
Hương Ưu đàm trổ bông.
Lắng nghe và mường tượng hình ảnh cảm động trong giây phút thiêng liêng đêm thành đạo với mấy câu trong bài Vằng Vặc Trăng Sao.
Sao mai vừa mới mọc,
Vằng vặc bóng trăng ngần.
Thế gian bừng chấn động,
Ánh Ðạo Vàng thênh thang .
Nghe thêm Phạm Thiên Thư chấm phá vài nét trang ngiêm không gian pháp hội qua mấy câu trong Kinh Ngọc, một tác phẩm thi hóa Kinh Kim Cang.
Trên trụ đá mây đỏ
Trải chiếu cõi lưu ly
Phật kết kim cương tọa
Chim tụng pháp diệu kỳ
Hai ngàn năm trăm vị
Tỳ-kheo rực pháp-y
Dưới thềm đá mây nổi
Dưới thềm hoa uy nghi
Một cõi thơ khác mang tính chất ý nghĩa giáo pháp nhiệm mầu cũng nằm trong thi phẩm Kinh Ngọc
Như-Lai là diệu nghĩa
Như như vạn pháp thường
Xưa nay không một pháp
Như bóng chớp hoa sương
Không một pháp bồ tát
Không ta cũng không người
Không trang nghiêm cõi phật
Mật nguyện hoa vàng tươi !
Và bước nhẹ vào cõi thơ Trụ Vũ để thâm niệm ân đức hương vị pháp bảo trong bài Chỉ Một Lần
Hương thơm người Giác Ngộ,
Chỉ một lần gặp gỡ,
Đủ thơm mãi đời ta.
Nụ cười người Giác Ngộ,
Chỉ một lần hoa nở,
Đủ đẹp mãi lòng ta.
Bàn tay người Giác Ngộ,
Chỉ một lần ngón trỏ,
Đủ tỏ mãi đường ta.
Và thêm một lần nữa hãy nghe Toại Khanh, thế hiệu một nhà sư tự nhận mình là cuồng tăng, là du sĩ với những dòng thơ hào phóng nhưng cũng không kém bi hùng, trăn trở với hành trình vượt qua miền hệ lụy thế gian đã cảm nhận ân đức Phật trong bài Thương Phật như thế nào.
Một chiều vắng, ngồi ôm chân Phật tượng,
Thương quá chừng, ôi ! bóng dáng Từ Tôn.
Con bé nhỏ bên tình Ngài vô lượng,
Lá me nằm giữa cõi nắng hòang hôn.
Và thêm thấm thía với lòng cảm kích vô ngần của Sư trong bài Vác Tượng.
Ô hay, Phật vẫn mỉm cười
Thì ra Ngài vẫn bên đời với con !
Dẩu mai biển cạn, non mòn
Nét môi vi tiếu xin còn thiên thu…
Và trong « Tượng Khuya », ta chợt nhận ra đâu đó nỗi thâm cảm của tác giả với nụ cười từ bi trên môi Ðức Phật.
Con ngồi nhìn Phật giữa khuya
Trăng xưa Linh Thứu
Chợt về bên hiên
Trước sau
Một nụ cười hiền
Phật bao dung hết
Muôn niềm phàm tâm
__(())__
Trở lại với những mùa trăng của nhân loại, nếu có ai hỏi tôi, mùa trăng đẹp nhất của nhân loại là mùa nào thì tôi không ngần ngại mà nói ngay rằng, theo cảm nhận của riêng tôi thì mùa trăng Vesak là mùa trăng đẹp nhất, và có lẽ , đêm trăng đẹp nhất trong mùa là cái đêm mà Thái Tử Sĩ Ðạt Ta rời bỏ hoàng cung, băng ngàn vượt suối, xông pha trên đường thiên lý. Theo dõi bước chân của Ngài chỉ có ánh trăng vằng vặc trời cao, vầng trăng soi rọi lên con người có ý chí sắc đá ấy. Giữa đêm trường quạnh vắng năm xưa, nếu bước chân của Ngài chùng lại thì nhân loại ngày nay sẽ mãi đắm chìm trong khổ đau tăm tối triền miên.
Ôi Ðức Phật của con ! Ôi mùa trăng Vesak !
Hạt Cát – (Với sự tham khảo nhiều nguồn tài liệu.)
Cảm Niệm Phật Đản
Nhị Độ Mai
Hạnh phúc thay Đức Phật Giáng Sinh
Hạnh Phúc Thay Giáo Pháp Cao Minh
Hạnh phúc thay Tăng già hoà hợp
Hạnh phúc Thay Tứ Chúng Đồng Tu.
Một lần nữa hân hoan chào đón kỹ niêm Đức Phật Đản Sanh Phật Lịch 2550.Người Phật Tử chúng ta không ít thì nhiều cũng cảm nhận quay về tìm lại hình ảnh tuyệt vời cuả một vị đạo sư Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đã chứng ngộ chân lý giải thoát.Hơn thế nữa Ngài đã thể hiện chữ tín, nghĩa, lòng hiếu thảo vượt xa cả vũ trụ loài người và trời.Hôm nay, nhân ngàyLễ Phật Đản chúng ta hãy cùng nhau học hỏi giới hạnh của Đức Phật
Để tìm hiểu hơn nữa về Đức Phật chúng ta, chúng ta cần có ý thưc rõ ràng qua tinh thần hiếu đạo của Ngài quả thật vượt xuất thế gian,vượt khỏ chữ hiếu thường tình, không hoen ố mùi ái dục.Riêng đối với chúng ta chỉ biểu hiện lòng hiếu thảo qua bát cơm, manh áo, chăm sóc cha mẹ trong lúc yếu đau như thế là đầy đủ.Nhưng đối với Đưc Phật, Ngài không như chúng ta,Ngài thật sự có trí tuệ trong tinh thần hiếu hạnh và đã thật sự đi tìm chân lý giải thoát tuyệt đối.Cho dù Ngài sống trong gia thế vương giả là một Thái tử có vợ đẹp con ngoan.Nhưng Đức Thế Tôn vẫn suy tư, ưu sầu sau khi xuất thành ra khỏi hoàng cung và nhìn thấy những cảnh tượng đau lòng “ sanh, lão , bênh, tử” của thế gian . Do đó Ngài quyết định xuất gia để đi tìm con đường giải thoát .Và quả nhiên sau 49 ngày đêm hành thiền dưới cây Bồ Đề, đã chứng đắc quả Chánh Đẳng, Chánh Giác.Sau khi đạo quả viên thành Đức Thế Tôn đã thu nhập vô số đệ tử và cùng họ trở về thnàh Ca Tỳ La vệ gặp gỡ thân phụ( Vua Tịnh Phạn), Di Mẫu và Công Chúa Da Giu Đà La, Hoàng Hậu Maya và dòng dõi Thích Ca đều chứng đắc đạo quả.Như vậy rõ ràng Ngài là bậc đại hiếu không ai có thế sánh kịp,so với cái nhìn thường tình của thế gian kết luận cho rằng Ngài trốn cha mẹ, bỏ vợ con để xuất gia là người con bất hiếu và nghĩa phu thê không tròn là điều không thể có được.
Ngoài chữ hiếu, chúng ta còn học hỏi thêm chữ tín từ nơi Đức Phật, nó có một ý nghĩa vô cùng hữu ích cho đời sống chúng ta.Đức Phật dù với Vua Chúa, quí tộc, hay thứ dân đều giữ trọn chữ tín.Cụ thể qua câu chuyện liên hệ giữa Ngài và Vua Bình Xa Vương, Ngài đã giũ lời hứa và sau khi thành đạo Ngài cùng với 1000 đệ tử từ Gàya đến Vương Xá thủ phủ của Vương Quốc Ma Kiệt Đà giàu mạnh và tại đây , vua Bình Xa Vương hiểu được giáo Pháp cao siêu liền chứng Sơ quả và xin quy y tam bảo.
Song song đó, Ngài củng độ 5 anh em Kiều Trần Như chứng quả Tu Đà Huờn và thâu nhận 5 Tôn Giả làm đệ tử xuất gia đàu tiên và ngôi Tam Bảo được hình thành.Và đến vào độ 80 tuổi,mặc dù Ngài có khả năng dùng thần thông để kéo dài tuổi thọ.Nhưng gì hứa cùng với Ác Ma thỉnh Ngài nhập Niết Bàn sớm. do đó Ngài đã từ chối lời thỉnh cầu của Ngài Annanda ở lại thề gian thêm thời gian lâu nữa.Điều này củng cho chúng ta thấy Đức Thế Tôn lúc nào củng trọng chử tín với tất cả mọi người.
Tinh thần hiếu hạnh, lòng tín trọng của Đức Phật là một bài học quí báu ngàn vàng đáng cho chúng ta noi theo.
Một người ngoại đạo ca ngợi Đức Phật rằng"Thật kỳ diệu thay! Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay ! Tôn giả Gotama ! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống đối một cách mĩa mai, dầu cho bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt tôn giả vẫn hoan hỷ như một A-la-hán Chánh đẳng giác." (Đại kinh Saccaka)
Chưa từng có khi nào đức Phật bày tỏ thái độ ghen ghet mot ai. Thậm chí đối với những địch thủ và kẻ thù xấu xa nhất của Ngài, Ngài cũng không bày tỏ thái độ chong doi, tra? Thu` .Tuy la` co’ nhung nguoi mang thanh` kien va ` muon chong doi , giet hai Ngai`. Nhung đức Phật không bao giờ đối xử với họ như là kẻ thù. DP da? tung` noi:
“Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng,
Nhân ngày kỷ niệm Đức Phật Dan Sanh Phật lịch 2500, đôi lời nói về long` hieu thao? , duc hanh.vi~ dai cua Ngai cung`` sự chứng ngộ của Đức Phật chỉ để bày tỏ lòng kính ngưỡng của người con Phật và để tri ân Người đã khai sinh ra con đường giải thoát cho nhân loại. Với những y’ nghi~ tho^ so*, can co*t, nay`,khong the dien ta? Het duoc tam ‘ long` cao qui cua Đức Phật. Do do xin muon loi noi’ cua? Ngài A-nan ca ngoi về sự vĩ đại của Duc Phật rằng:
"Này Bà-la-môn, Đấng Thế Tôn ấy là bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con
Va` lời của một thi nhân Hồi giáo, Abdul Atahiya ca ngợi Đức Phật:
"Nếu bạn muốn thấy người cao quý nhất của loài người, bạn hãy nhìn vị Hoàng đế trong y phục một người ăn xin. Chính là Phật đó. Siêu phàm thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa con người." (Đức Phật dưới mắt các nhà tri thức)
ĐỨC PHẬT VÀ HÀNH TRÌNH TU TẬP BẢN THÂN
Liễu Pháp
Hầu như trong cuộc đời ai cũng cần có một hình ảnh thân thương, gần gũi nào đó để làm nguồn động viên tinh thần cho chính mình. Cha mẹ làm lụng cực khổ vất vả, thức khuya dậy sớm hay làm ngày làm đêm, nhưng chỉ cần nghĩ đến những đứa con ngoan ngoãn học giỏi thì bao nhiêu mệt mỏi đều tiêu tan. Những đứa con chong đèn dầu mỗi đêm để lo học hành thi cử, bỏ những thú vui rong ruổi với bạn bè, đôi lúc cũng vì nhớ đến sự hy sinh tận tuỵ mà cha mẹ đã dành cho mình. Thậm chí những người yêu nhau, vì người yêu của mình, họ có thể loại bỏ những tính xâu rất khó bỏ, sửa đổi chính bản thân mình để xứng đáng với người mình yêu. Dù những hành động đó có thể xuất phát từ tình cảm riêng tư hay trần tục, nhưng sức mạnh tinh thần của một hình ảnh thân thương hay khả kính là một điều ai cũng từng cảm nhận.
Đối với người xuất gia, tuy đã “cát ái từ thân”, từ bỏ gia đình để sống đời sống không gia đình, dành trọn cuộc đời mình cho sự tu tập bản thân và phụng sự xã hội, nhưng như vậy không có nghĩa là đã có thể hoàn toàn một mình dấn bước vào lộ trình dài thăm thẳm này. Có lẽ không những riêng đối với bản thân tôi, mà những người tu trẻ tuổi khác cũng rất cần những nguồn động viên không những của thầy, của bạn, mà còn của chư Tổ, và của cả Đức Từ Phụ dù Ngài đã từ lâu không còn nữa. Đọc trong cuốn “Con Đường Vô Định” của Thầy Hạnh Tấn ghi lại cuộc hành trình “tam bộ nhất bái” của Thầy và Thầy Đồng Văn từ Varanasi về Bodhgaya, tôi nhớ Thầy có nói là trong những lúc mệt mỏi, đói khát, đau nhức, Thầy tưởng tượng có chư Phật và các vị Hộ Pháp đang đi bên cạnh, nhờ vậy mà Thầy có thể lướt qua hết mọi khó khăn và hoàn thành nguyện ước của mình. Tôi đã có duyên gặp hai thầy trên hành trình đó, khi Thầy Đồng Văn đôi chân bị sưng rộp vì không quen đi bộ, và Thầy Hạnh Tấn thì đen sạm đi vì nắng gió, nên tôi cảm nhận được nguồn sức mạnh tinh thần đã giúp hai thầy trên suốt hành trình gian khổ đó.
Đối với tôi, sự kiện Đức Phật đã từng sinh ra, lớn lên, xuất gia, tu khổ hạnh, thành đạo và đi giáo hóa ở Ấn Độ là một niềm an ủi lớn trong thời gian tu học ở Ấn Độ. Những tháng mùa hè, có khi trời nóng lên đến 46-48C, không khí nóng hầm hập, ngay cả gió cũng mang lại hơi nóng, và cả không gian nóng như trong một lò nướng bánh mì. Những ngày cúp điện thì coi như là không làm gì được, chỉ làm sao để có sức chống chọi với cái nóng cũng đã mệt rồi. Những lúc đó tôi nghĩ đến những tháng ngày Đức Phật đi chân không, đầu trần, du phương giáo hóa từ làng này qua xóm khác thì chắc hẳn sức chịu đựng của Ngài và chư tăng thời đó quả là phi thường. Đức Phật cũng có lần kể lại thời gian ngài đi tìm đạo như sau: “Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp.” (Đại Kinh Sư Tử Hống). Đức Phật đã từng sống ngoài trời giữa đêm đông và ngày hè của Ấn Độ, thì mình hiện nay ở trong nhà, dù là cái nhà nóng như lò bánh mì đi nữa thì vẫn không thấm vào đâu so với những gì ngài đã trải qua. Và nhờ vậy nhìn lại thì thấy những chịu đựng của mình không là gì cả và cũng vơi bớt đi những phiền não bực bội trong lòng. Hay những lần đi vào nhà ăn của ký túc xá, có khi thật ngao ngán khi nhìn vào thực đơn: hôm nay dal và carry, ngày mai carry và dal, cứ vậy làm miết! Người Ấn kể cũng lạ, nấu bất cứ món gì họ cũng cho bột nghệ và bột carry vào, cho nên dù có thay đổi các thứ rau, thì ngày nào nhìn vào nồi cũng thấy một “màu vàng ngút trời”, không hiểu người khác thấy sao, chứ đôi lúc tôi thấy thật là “thê thảm”! Ngồi giữa cái nóng ngột ngạt, trước những món ăn khô khan, xa lạ với những gì mình đã từng quen thuộc khi còn ở quê nhà, cái cảm giác mới ngán ngẩm làm sao! Nhưng rồi tôi lại hình dung ra hình ảnh Đức Phật, đang là một thái tử giàu sang, trở thành một người khất thực, ngày ngày ôm bình bát đến trước những ngôi nhà tranh lụp xụp trong những ngôi làng nghèo xa xôi hẻo lánh. Những thức ăn Ngài thọ nhận chắc chắn không hơn gì những vật thực tôi đang có, thêm vào đó ngài phải đi bộ suốt mấy dặm đường, giữa nắng, gió, bụi, mưa, và thậm chí có khi đi suốt buổi mà không có gì trong bát, phải trở về dùng thiền duyệt thay cơm. Những hình ảnh đó khiến tôi thấy gần gũi với Đức Phật nhiều hơn, dù những khó khăn tôi đang trải qua chỉ là rất nhỏ bé mà thôi.
Bình thường, mọi người thích nhìn ngắm hình ảnh của Đức Phật sau khi ngài thành đạo với dung mạo oai nghiêm, bao dung, tươi sáng. Nhưng tôi lại rất thích ngắm nhìn hình ảnh khi ngài còn là vị Bồ Tát tu khổ hạnh. Mỗi lần nhìn tấm hình đó, tôi lại nhớ đến một đoạn trong Kinh Đại Sư Tử Hống: “Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống…Vì ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể ta trở nên hết sức gầy yếu. Tay chân ta như các lóng tre khô đầy khúc khỉu. Hai bàn tọa của ta trở thành giống như móng trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn ta lộ rõ như rui cột của ngôi nhà đổ nát. Ðồng tử của ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ dưới giếng sâu. Da đầu ta khô héo nhăn nheo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng khô héo nhăn nheo. Nếu ta muốn sờ da bụng thì ta đụng nhằm xương sống vì hai thứ đã dính sát vào nhau. Nếu ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện thì ta ngã úp mặt xuống đất. Nếu ta chà xát tay chân thì đám lông hư mục rụng xuống trong tay ta”. Đoạn đường Ngài đi tìm chân lý khổ nhọc biết bao nhiêu, nỗ lực của ngài to lớn biết bao nhiêu, thời gian ngài hành ba la mật lâu xa đến bao nhiêu, để đến hôm nay chúng ta được thừa hưởng gia tài trí tuệ vô biên của ngài, vậy mà có những lúc chúng ta dế duôi, xao lãng, mải vui quên cả đường về. Thái độ dễ duôi này có thể là vì đôi lúc chúng ta đã quên đi những hy sinh của Đức Phật và các thế hệ chư tăng tiền bối trong việc đi tìm và trao truyền đạo lý. Bởi vậy đối với tôi, tấm hình Bồ Tát khổ hạnh mà tôi vẫn giữ trong phòng và hay nhìn ngắm, như là một lời nhắc nhở, động viên và khuyến khích, và nhờ vậy tôi cảm thấy gần gũi với Đức Phật hơn nhiều. Có những thứ có giá trị vượt thời gian, vượt không gian, những thứ thật sự là trân bảo trong mọi lúc mọi nơi, và hình ảnh Đức Phật là một trong những thứ quý giá đó. Ngài đã viên tịch cách đây hai mươi lăm thế kỷ, nhưng hình ảnh của ngài, những lời dạy của ngài, gương sáng của ngài vẫn còn là nguồn thương yêu, an ủi và động viên đối với các thế hệ đệ tử của ngài hôm nay và cả mai sau.
| < Prev | Next > |
|---|






Subscribe to RSS Feed